Tiếng ViệtEnglish

Danh mục sản phẩm
Thống kê truy cập
Hiện có 422 khách
Lượt truy cập 781020
Sức khỏe cộng đồng
Dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai

dinh-duong- ba-bau-uong-sua-nhu-the-nao-la-hop-ly_0

1. Tăng thêm năng lượng

Phụ nữ trong thời kỳ có thai, nhu cầu năng lượng ngày càng tăng đặc biệt là thời kỳ thai 3 tháng cuối. Nếu như phụ nữ tuổi sinh đẻ nói chung cần 2200Kcal/ ngày thì phụ nữ có thai 3 tháng cuối phải thêm 350Kcal (tức là 2550Kcal/ngày) tương đương với thêm 1 bát cơm đầy mỗi ngày.

2. Bổ sung chất đạm và chất béo

   Bữa ăn cho bà mẹ có thai cần có thức ăn để bổ sung chất đạm và chất béo giúp việc xây dựng và phát triển cơ thể trẻ. Chất đạm còn cần thiết cho quá trình tạo máu, phát triển của các tổ chức trong cơ thể mẹ, cần thiết cho phát triển của thai và rau thai. Chất đạm cần tăng thêm 15g/ngày so với bình thường. Chất béo nên chiếm 20% tổng năng lượng (khoảng 40g). Ngoài chất đạm động vật như sữa, trứng, thuỷ sản, tôm, cua, cá, ốc...cần chú ý đến chất đạm từ nguồn thức ăn thực vật  như đậu tương, đậu xanh, cá loại đậu khác, vừng, lạc…

3. Bổ sung các chất khoáng

Sắt: tình trạng thiếu sắt dẫn đến thiếu máu ở người mẹ ảnh hưởng đến mức tăng cân của mẹ trong thời gian mang thai cũng như cân nặng của trẻ sơ sinh làm tăng nguy cơ bị biến chứng sản khoa. Sắt có nhiều trong thịt, cá, trứng, các loại nhuyễn thể như nghêu, sò, ốc, hến, trong ngũ cốc, đậu đỗ các loại… Người mẹ mang thai nên bổ sung 60mg sắt nguyên tố/ngày trong suốt thời gian mang thai đến sau khi sinh 1 tháng.

Canxi: Canxi tích trữ trong thời gian mang thai để giúp tạo bộ xương thai nhi 3 tháng cuối của thai kỳ. Lượng canxi ăn vào được khuyến cáo là 800- 1000mg mỗi ngày trong suốt thời gian bà mẹ mang thai và cho con bú. Canxi có nhiều trong tôm, cua, cá, sữa và chế phẩm của sữa. Để tăng thêm canxi trong khẩu phần, người mẹ mang thai cần uống thêm sữa giàu canxi và các sản phẩm chế biến từ sữa như sữa chua, phomat, hoặc uống bổ sung viên canxi kèm theo vitamin D.

Kẽm: thiếu kẽm gây nên vô sinh, sẩy thai, sinh non hoặc sinh già tháng, thai chết gần ngày sinh và sinh không bình thường. Kẽm có nhiều trong thịt, cá, hải sản. Nhu cầu kẽm của người mẹ mang thai là 15mg/ngày.

Iốt: thiếu iốt ở phụ nữ thời kỳ mang thai có thể gây sảy thai tự nhiên, thai chết lưu, đẻ non. Khi thiếu iốt nặng, trẻ sinh ra có thể bị đần độn với tổn thương não vĩnh viễn. Trẻ sơ sinh có thể bị các khuyết tật bẩm sinh như liệt tay hoặc chân, nói ngọng, điếc, câm, mắt lác. Nhu cầu iốt của phụ nữ mang thai là 175- 200mcg iốt/ngày. Nguồn thức ăn giàu iốt là những thức ăn từ biển như cá biển, sò, rong biển... và các loại bột canh, muối có bổ sung Iốt.

3. Bổ sung các vitamin

vitamin

Vitamin là những chất hữu cơ mà cơ thể không tổng hợp được. vitamin tác dụng với một lượng rất nhỏ để đảm bảo sự sinh trưởng và hoạt động bình thường của cơ thể.

Axit Folic: Thiếu axit folic ở người mẹ có thể dẫn đến thiếu cân ở trẻ sơ sinh. Axit folic có vai trò bảo vệ chống lại những khiếm khuyết của ống thần kinh trong sự thụ thai. Vì thế nhu cầu axit folic ở người mẹ có thai là 300- 400mcg/ngày. Nguồn cung cấp axit folic là rau xanh, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt, các thực phẩm có bổ sung axit folic hoặc viên đa vi chất có chứa axit folic. [1]

Vitamin A: có vai trò đặc biệt trong hoạt động thị giác, tăng cường miễn dịch trong cơ thể. Thiếu vitamin A sẽ dẫn đến tăng tỷ lệ mắc bệnh nhiễm khuẩn và tử vong, gây khô mắt, có thể dẫn đến mù loà vĩnh viễn nếu không được điều trị. Các loại rau xanh, nhất là rau ngót, rau dền, rau muống và các loại củ quả có màu vàng, màu đỏ như cà rốt, xoài, bí đỏ là những thức ăn nhiều caroten, là tiền vitamin A, khi vào cơ thể sẽ chuyển hoá thành vitamin A. [2]

Vitamin D: giúp cho sự hấp thu các khoáng chất như canxi, phospho. Nếu cơ thể thiếu vitamin D, lượng canxi chỉ được hấp thu khoảng 20%, dễ gây các hậu quả như trẻ bị còi xương ngay trong bụng mẹ hay trẻ đẻ ra bình thường nhưng thóp sẽ lâu liền. Phụ nữ có thai nên sử dụng các thực phẩm giàu vitamin D như phomát, cá, trứng, sữa… ngoài ra có thể uống bổ sung vitamin D trong thai kì. [3]

Vitamin B1: là yếu tố cần thiết để chuyển hoá gluxit. Ngũ cốc và các hạt họ đậu là những nguồn bổ sung vitamin B1 tốt. Vì vậy, ăn gạo và các loại đậu là cách bổ sung vitamin B1 tốt nhất cho cơ thể[4]

Vitamin B2: tham gia quá trình tạo máu nên nếu thiếu vitamin B2 sẽ gây thiếu máu nhược sắc. Nhu cầu vitamin B2 là 1,5mg/ngày. Vitamin B2 có nhiều trong thức ăn động vật, sữa, các loại rau, đậu... [5]

Vitamin C: có vai trò lớn trong việc làm tăng sức đề kháng của cơ thể, hỗ trợ hấp thu sắt từ bữa ăn, góp phần phòng chống thiếu máu do thiếu sắt. Vitamin C có nhiều trong các quả chín và rau xanh. [6]

   Ngoài ra phụ nữ có thai cũng cần chú ý không dùng các loại chất kích thích như rượu, cà phê, thuốc lá...; Giảm ăn các loại gia vị gây kích thích như ớt, hạt tiêu, dấm, tỏi; Nên ăn nhạt (bớt muối), Tránh dùng kháng sinh có thể gây hại cho trẻ. Tuyệt đối không ăn trứng sống hay trứng lòng đào, thịt và cá chưa nấu chín,thịt hoặc cá sống như sushi hay bò bít-tết tái, cá hồi hoặc thực phẩm hun khói. Các loại gỏi (rau trộn) hoặc thức ăn chế biến sẵn cũng có thể chứa khá nhiều vi khuẩn không tốt cho mẹ và bé. Cá ngừ và đậu phộng cũng có thể gây nguy hại cho mẹ và bé vì vậy nên tránh sử dụng những loại thực phẩm này.

Như vậy, dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai của người mẹ có vai trò then chốt để sinh ra những trẻ sơ sinh mạnh khoẻ và là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của chúng sau này. Vitamin và khoáng chất vô cùng cần thiết trong quá trình mang thai. Khi mang thai, nhu cầu vitamin và khoáng chất của cơ thể tăng lên nhằm cung cấp đầy đủ cho mẹ và bé, vì vậy chế độ ăn thông thường có thể không cung cấp đầy đủ nhu cầu cần thiết của cả hai. [7]Để đáp ứng đầy đủ các vitamin và khoáng chất như trên, ngoài việc lựa chọn thực phẩm giàu vi chất dinh dưỡng, phụ nữ mang thai nên uống loại viên multivitamin và khoáng chất dành cho bà mẹ mang thai hàng ngày theo sự hướng dẫn của bác sĩ dinh dưỡng để bé phát triển khỏe mạnh, đồng thời mẹ tránh được một số nguy cơ gây bệnh và đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng.

Cần phải nhắc lại rằng, những người khoẻ mạnh, không có rối loạn tiêu hoá, hấp thu và ăn với chế độ ăn bình thường thì không cần phải dùng thêm vitamin cùng các khoáng chất dưới dạng thuốc. Nếu các đối tượng này thường xuyên uống vitamin, đặc biệt vitamin tan trong dầu (vitamin A, D) thì dễ gặp các rối loạn do thừa vitamin. Chỉ bổ sung vitamin và khoáng chất khi chế độ ăn hằng ngày không đủ hoặc thiên lệch. Trẻ biếng ăn, người mắc bệnh hoặc làm việc, vận động quá căng thẳng và phụ nữ mang thai là những trường hợp cần được bổ sung dinh dưỡng.

Tuy nhiên, khi uống viên bổ sung, bạn nên cẩn trọng vì bổ quá hóa khổ. Vậy thai phụ nên dùng thế nào?

Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều sản phẩm nhằm bổ sung vitamin và khoáng chất cho phụ nữ mang thai. Nhưng việc sử dụng và phối hợp các loại khoáng chất sao cho hợp lí là một vấn đề gây đau đầu cho nhà sản xuất và được mọi người quan tâm. Sản phẩm TONOGEN ra đời nhờ sự kết hợp 22 loại vitamin và khoáng chất dựa trên quy trinh sản xuất tiên tiến của Mỹ giúp bổ sung một số vitamin và khoáng chất cho cơ thể , hỗ trợ cho sự tăng trưởng và phát triển bình thường của thai nhi ở phụ nữ có thai và hỗ trợ phòng ngừa và hạn chế bệnh lí do thiếu hụt các vitamin.

TONOGEN có chứa:

Vitamin C, Vitamin D2,Vitamin E, Vitamin B1,Vitamin B2,Niacin,Vitamin B6

Folate, Vitamin B12, Vitamin A, Biotin, Pantothenic acid

Calcium , Fe fumarat, Mg, Zinc, Manganese, Kali, Choline

Inositol, PABA ( para amino acid), DHA

TONOGEN là một sản phẩm dùng cho các trường hợp cần bổ sung vitamin và khoáng chất đáp ứng nhu cầu ding dưỡng và phát triển nhanh như phụ nữ mang thai và cho con bú.

Như vậy, đối với phụ nữ có thai thì TONOGEN là một sản phẩm tham khảo có giá trị không thể bỏ qua.

Tóm lại, dinh dưỡng trong quá trình mang thai là một yếu tố quyết định cho việc sinh ra những đứa trẻ khoẻ mạnh và là tiền đề cho sự phát triển của bé sau này. Hy vọng những kiến thức trên sẽ giúp cho mọi người có một kiến thức đúng đắn và áp dụng một cách hợp lí để sinh ra những đứa trẻ khoẻ mạnh.

 

Tài liệu tham khảo

[0]dược lực học, tr 587

[1]dược lực học tr606, 607

[2]dược lực học 618, 619

[3]dược lực học 618, 619

[4]dược lực học 592, 593, 584

[5]dược lực học 609, 610, 611

[7](dược lực học, tr590)

 

 
Hỗ trợ trực tuyến
Kinh doanh 1
Kinh doanh 2
Sản phẩm mới
Siccaprotect
Siccaprotect

neoexormin
neoexormin

An Tam Cung Hoan
An Tam Cung Hoan

Xireca-S
Xireca-S

SCIOMIR
SCIOMIR

Video
Đối tác
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Designed by vnwebsitepro.com