
VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG: NGUYÊN NHÂN, TRIỆU CHỨNG, CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ
TỔNG QUAN BỆNH VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG
Bệnh viêm phổi mắc phải ở cộng đồng xảy ra ở ngoài bệnh viện, là hiện tượng nhiễm khuẩn của nhu mô phổi bao gồm phế nang, tiểu phế quản tận hay viêm tổ chức kẽ của phổi.
Biểu hiện ở viêm phổi gồm có viêm phổi đốm, viêm phổi thuỳ hoặc viêm phổi không điển hình. Các thể này có đặc điểm chung đó là xuất hiện hội chứng bóng mờ phế nang và đông đặc phổi hoặc mô kẽ trên hình ảnh chụp X-quang phổi. Tác nhân gây bệnh là do virus, vi khuẩn, nấm,… nhưng không phải là do vi khuẩn lao.

Mức độ viêm phổi có thể là từ nhẹ đến nặng, thậm chí là cướp đi cả mạng sống của người bệnh. Trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, người già trên 65 tuổi và đối tượng bệnh nhân có hệ miễn dịch yếu hoặc mắc các bệnh lý nền thường bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi viêm phổi. Hàng năm tỷ lệ người mắc bệnh cũng như chi phí dùng điều trị bệnh không hề nhỏ. Cụ thể như:
• Tại Hoa Kỳ, hàng năm có khoảng 4 triệu người bị nhiễm viêm phổi, trong đó số trường hợp cần phải nhập viện chiếm tỷ lệ 20%;
• Tỷ lệ tử vong của các ca bệnh nội trú là 15 – 30%, còn trường hợp điều trị ngoại trú chiếm 1- 5%;
• Chi phí điều trị bệnh viêm phổi hàng năm chiếm khoảng 9,7 tỷ Đô la;
• Trung bình cứ 1000 người thì có từ 8 – 15 người bị nhiễm viêm phổi cộng đồng;
• Ở nước ta, giai đoạn 1997 – 2000 tại bệnh viện Bạch Mai tiếp nhận 3.606 bệnh nhân điều trị tại khoa Hô hấp, trong đó có 345 (khoảng 9,57%) trường hợp bị viêm phổi – xếp thứ 4 trong số các bệnh về đường hô hấp.
NGUYÊN NHÂN BỆNH VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG
Viêm phổi cộng đồng được cho là rất phổ biến, gây ra bởi các yếu tố sau:
– Virus: Các virus có khả năng gây bệnh cúm và cảm lạnh là nguyên nhân gây nên bệnh viêm phổi;
– Vi khuẩn: Vi khuẩn có tên khoa học Streptococcus pneumoniae chính là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh viêm phổi ở Mỹ. Loại viêm phổi do vi khuẩn này gây nên có thể tự phát tác sau khi người bệnh nhiễm lạnh hoặc cảm cúm, gây ảnh hưởng đến thuỳ phổi, còn được gọi là viêm phổi thuỳ;
– Nấm: Thường tấn công những người có hệ miễn dịch yếu hoặc mắc các bệnh lý mạn tính. Các loại nấm có khả năng gây bệnh viêm phổi có thể tồn tại trong đất hoặc phân chim, tuỳ thuộc vào khu vực địa lý;
– Các loại sinh vật giống như vi khuẩn: Mycoplasma pneumoniae cũng có thể gây viêm phổi nhưng các biểu hiện chúng gây ra thường nhẹ hơn khi so với những loại viêm phổi khác.

TRIỆU CHỨNG BỆNH VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG
Biểu hiện của viêm phổi mắc phải ở cộng đồng có thể từ nhẹ đến nặng và tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác như yếu tố gây bệnh (do virus, nấm hay vi khuẩn, vi sinh), tuổi tác và thể trạng của bệnh nhân. Những triệu chứng nhẹ thường giống với cảm lạnh hoặc cảm cúm nhưng lại kéo dài hơn.
Dấu hiệu cho thấy một người bị viêm phổi cộng đồng đó là:
• Ho khan hoặc ho có đờm;
• Khó thở và đau ngực khi thở hoặc ho;
• Cơ thể mệt mỏi;
• Bị sốt, người đổ nhiều mồ hôi, run rẩy;
• Buồn nôn, nôn mửa hoặc bị tiêu chảy;
• Nhận thức thay đổi, hay bị nhầm lẫn (thường gặp ở người từ 65 tuổi trở lên);
• Nhiệt độ cơ thể giảm (đặc biệt ở người có hệ miễn dịch yếu và người trên 65 tuổi).

CÁC BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG
– Khó thở: nếu bệnh nhân bị viêm phổi nặng hoặc cơ thể đang có những bệnh phổi mạn tính tiềm ẩn, người bệnh sẽ có nguy cơ bị khó thở và có thể phải sử dụng đến máy thở;
– Nhiễm khuẩn huyết: Vi khuẩn khi xâm nhập vào phổi đi theo đường máu gây bệnh cho những cơ quan khác, khiến suy tạng rất nguy hiểm;
– Tràn dịch màng phổi: là tình trạng các chất lỏng tích tụ nhiều trong màng phổi do vi khuẩn gây nên;
– Áp xe phổi: các áp xe hình thành khi một khoang trong phổi có mủ và thường được loại bỏ bằng thuốc kháng sinh hoặc phẫu thuật.
ĐỐI TƯỢNG NGUY CƠ BỆNH VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG
Có 2 nhóm tuổi dễ phải đối mặt với nguy cơ bị bệnh:
• Trẻ nhỏ dưới 2 tuổi;
• Người cao tuổi ( > 65 tuổi).
Những yếu tố nguy cơ khác làm tăng khả năng bị viêm phổi cộng đồng:
– Người nghiện thuốc lá, thuốc lào: hút thuốc sẽ gây tàn phá hệ thống phòng thủ của cơ thể trước sự xâm lăng của virus, vi khuẩn gây bệnh viêm phổi;
– Người mắc bệnh mạn tính: các bệnh như hen suyễn, bệnh tim hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cũng làm tăng nguy cơ gây bệnh viêm phổi;

– Người có hệ thống miễn dịch yếu: bệnh nhân sử dụng steroid, những người được ghép tạng, hoá trị liệu hoặc người bị HIV/AIDS rất dễ bị viêm phổi cộng đồng.
Phòng ngừa bệnh Viêm phổi cộng đồng
– Mỗi năm nên tiêm vắc xin phòng bệnh cúm. Đối với những người bị bệnh viêm phổi mạn tính, bị suy tim, tuổi cao trên 65 haowcj đã thực hiện cắt lách thì nên tiêm phòng phế cầu định kỳ 5 năm 1 lần;
– Cai thuốc lá, thuốc lào – những yếu tố kích thích đầu độc hệ hô hấp;
– Điều trị hiệu quả những ổ nhiễm trùng khu vực răng hàm mặt, tai mũi họng;
– Giữ ấm cổ, đặc biệt là vùng cổ và ngực trong mùa lạnh.
CÁC BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG
• Nguyên tắc điều trị
– Sớm điều trị bằng kháng sinh cho các bệnh nhân bị viêm phổi do vi khuẩn gây nên;
– Dùng kháng sinh có hiệu quả đối với nguyên nhân gây bệnh và lưu ý việc vi khuẩn kháng kháng sinh;
– Khai thác tiền sử tương tác thuốc và dị ứng thuốc của bệnh nhân trước khi dùng thuốc;
– Trung bình thời gian dùng kháng sinh là trong khoảng 10 ngày trừ các trường hợp ngoại lệ;
– Tuân thủ các nguyên tắc khoa học về việc dùng kháng sinh cho bệnh nhân. Đặc biệt những loại kháng sinh phụ thuộc vào thời gian sử dụng cần duy trì liều lượng như thế nào để đảm bảo việc điều trị luôn đạt hiệu quả tối ưu nhất.
• Điều trị cụ thể
Việc điều trị viêm phổi nhằm mục đích là thanh toán nhiễm trùng, ngăn ngừa và điều trị các biến chứng. Phần lớn các trường hợp bị viêm phổi cộng đồng có thể điều trị tại nhà bằng kháng sinh. Hầu như sau khi điều trị khoảng vài ngày hoặc vài tuần thì các triệu chứng của bệnh sẽ thuyên giảm hoặc biến mất, tuy nhiên biểu hiện mệt mỏi vẫn có thể dai dẳng trong vòng một tháng hoặc lâu hơn.
Tuỳ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh, tuổi tác cũng như điều kiện sức khỏe của bệnh nhân mà sẽ áp dụng phương pháp điều trị khác nhau, cụ thể là:
– Sử dụng kháng sinh: Dùng thuốc nhằm tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh viêm phổi. Điều trị theo kháng sinh đồ để đạt hiệu quả cao;
– Kiểm soát triệu chứng – giảm đau, hạ sốt: Dùng các loại thuốc như sau: Ibuprofen (Advil, Motrin IB, những loại khác), aspirin, acetaminophen (Tylenol, những loại khác).
Điều trị tại nhà
– Đảm bảo cơ thể không thiếu nước: giữ thói quen uống nước ngay cả khi không khát để làm giãn lỏng chất nhầy chứa trong phổi;
– Dành thời gian nghỉ ngơi: không nên quay trở lại vận động mạnh hoặc làm việc, học tập cho tới khi ngừng ho ra chất nhầy hoặc thấy cơ thể không còn dấu hiệu sốt;
– Dừng thuốc theo chỉ dẫn: tuân thủ nghiêm ngặt các chỉ định dùng kháng sinh và phác đồ như bác sĩ đã hướng dẫn. Không tự ý bỏ thuốc nếu thấy đã hết triệu chứng viêm phổi vì vi khuẩn có thể nhân cơ hội này mà tiếp tục sinh sôi phát triển.

Tham khảo: medlatec.vn

